| Thái Cực Quyền, sơ lược các chi phái và đặc điểm |
|
|
|
Nguyễn Quí Jacques & Dufresne Thomas Hiện nay có sáu chi phái Thái Cực Quyền chánh. Trong đó môn của giòng họ Trần là gốc của tất cả các chi phái khác. Môn Thái Cực Quyền được truyền dạy bởi Trần Vương Đình (1600-1680), người làng Trần gia câu, tỉnh Hà Nam. Những môn võ chánh ông đả học qua là môn do đại tướng Thích Kế Quang (1528-1588) dạy trong quân đội, và môn Thiếu Lâm Quyền dạy tại chùa Thiếu Lâm ở tỉnh Hà Nam. Môn ông dạy sau đó có tên là Trần thị Thái Cực Quyền (Thái Cực Quyền của gia đình họ Trần) để phân biệt với các chi nhánh thành lập sau. Môn nầy chỉ truyền trong gia đình Trần cho tới mấy đời sau, Trần Thanh Bình (1795-1868) di cư và dạy tại Triệu Bảo Trấn, chi phái lưu truyền tại đây có tên là Triệu Bảo Thái Cực Quyền. Cùng một thời, một nô bộc của gia đình họ Trần, Dương Lộ Thiền (1799-1872) học với Trần Trường Hưng (1771-1853), rồi dạy môn Thái Cực tại Bắc Kinh. Môn của ông, Dương thị Thái Cực Quyền, thịnh hành nhất và được làm tiêu chuẩn cho sự sáng tạo bài 24 thức Giản hóa Thái Cực Quyền, nhằm dạy cho người lớn tuổi với mục đích dưỡng sinh. Võ Vũ Tường (1812-1880) một học trò của Dương Lộ Thiền, tới Triệu Bảo trấn luyện với Trần Thanh Bình, sau trở về Bắc Kinh sáng lập hệ phái Võ thị Thái Cực Quyền. Một đệ tử khác của Dương Lộ Thiền, Toàn Hữu (1834-1902), người Mãn Châu, sau cải tên là Ngô Toàn Hữu, là sáng tổ của môn Ngô thị Thái Cực Quyền. Cuối cùng, Tôn Lộc Đường (1861-1932), một danh thủ hai môn Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng, đệ tử đời thứ hai của Võ thị Thái Cực Quyền, hổn hợp ba môn võ để lập chi phái Tôn thị Thái Cực Quyền. Trên lý thuyết, sáu môn Thái Cực Quyền đều có đặc tính cương nhu, nhưng trong thật dụng, chỉ Trần thị Thái Cực Quyền còn giữ sự luân phiên của Cương và Nhu, của Nhanh và Chậm. Thái Cực Quyền của họ Trần còn truyền lại hai bài quyền, đệ nhất lộ và đệ nhị lộ. Bài thứ nhất chứa đựng nhiều động tác nhu nhuyển, như quay tơ, xen lẩn với vài động tác phát kình. Những động tác nhu nhuyển có tính cách hàm chứa kình lực hay là thế thủ hóa giải thế công của địch, còn động tác nhanh là để phóng kình lực tấn công địch thủ. Bài thứ nhì, còn tên là Pháo trùy, có nhiều đòn thế phát kình hơn, và đánh với tốc độ nhanh hơn bài thứ nhất. Môn Thôi thủ là phần tập quan trọng của môn phái, vì chủ luyện niêm thủ thính kình. Niêm thủ là hai tay dính hai tay địch cốt tìm hiểu kình lực đối phương, và tìm sơ hở để thủ thắng. Nói một cách tượng trưng, luyện bài quyền là cốt để biết mình, còn tập Thôi thủ là biết địch thủ. Vì theo Tôn Tử, "Biết người biết ta, trăm trận không nguy" (tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi). Phần binh khí bao gồm đơn kiếm, song kiếm, đơn đao, song đao, đại đao, thương, can (trường côn), song giản... Năm môn kia chỉ còn đệ nhất lộ. Phần thôi thủ không khác nhau lắm. Còn binh khí chỉ trong bài kiếm là ta có thấy nguồn gốc xưa, những bài võ khí khác đều là chế biến của các danh sư đời sau nhằm bổ túc môn phái họ. Hiện tại Trung Quốc, có nhiều bài quyền mới được sáng tác, dựa vào Dương thị Thái Cực Quyền và từ từ, mỗi chi phái đều chế ra bài Giản hóa. Và để kết thúc bài nầy, chúng tôi phải nói tới Triệu gia Thái Cực Chưởng thịnh hành tại Việt Nam, là chế tác của Triệu Trúc Khê. Ông không nằm trong phả hệ của Thái Cực Quyền, và là một danh sư Thái Cực Đường Lang Quyền thuộc phả hệ của Bắc Phái Đường Lang Quyền. |
|
| Last Updated ( Tuesday, 08 April 2008 ) |
| < Prev | Next > |
|---|
| About Us |
| Lineage |
| Organization Chart |
| Philosophy |
| Technical System |
| Schools |
| Contact Us |